(THO) - Ca dao xưa có câu: “Anh đi anh nhớ quê nhà/Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”. Xưa, những nhà nghèo vùng thôn quê thường dùng nước tương thay cho thức ăn nước chấm, thì nay nước tương đã trở thành gia vị ngon, thường xuyên có mặt tại nhiều gia đình khá giả, những nhà hàng và là món quà biếu người thân, bạn bè mỗi dịp về quê.
Đi cùng đồng chí Chủ nhiệm HTX dịch vụ nông nghiệp xã Định Hải, huyện Yên Định đến làng Ái, làng nghề truyền thống chế biến nước tương, mới đến đầu làng, chúng tôi đã cảm nhận được mùi thơm của tương đang chín lan tỏa từ các gia đình làm nghề. Mùi thơm của tương làng Ái khiến nhiều du khách vừa bước chân vào làng đã muốn được thưởng thức ngay thứ nước chấm thơm ngon cổ truyền của dân tộc.
Con đường làng nhỏ dẫn chúng tôi vào các hộ chuyên chế biến nước tương từ nhiều năm nay khá sạch sẽ, mát rượi bóng cây. Nhà nào cũng có một khoảng sân, vườn rộng thoáng mát và yên bình. Theo các hộ làm nước tương cho biết, đây là nghề gia truyền từ lâu đời được các thế hệ con cháu của làng tiếp nối và phát triển. Bà Ngô Thị Tình, 75 tuổi, tâm sự: Trước đây, các hộ trong làng làm nước tương để sử dụng trong bữa cơm gia đình và làm quà cho người quen. Nhiều năm làm tương, chúng tôi đã tích luỹ được kinh nghiệm làm nước tương ngon hơn, thơm hơn và dần dà nước tương làng Ái đã đem bán ở chợ xã, chợ huyện. Cũng theo bà Tình, để có được sản phẩm nước tương ngon, người làm nghề nước tương làng Ái đã trăn trở và cẩn thận từng công đoạn. Nguyên liệu phải 100% gạo nếp thơm, chất lượng hạt đỗ tương đều, không hạt sâu, hạt lép. Gạo, đỗ vo rửa kỹ trước khi đưa vào chế biến. Các dụng cụ: chum, vại, nong nia, chai, lọ, que quấy đảo... đều phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ. Ngâm ngả tương bằng nước giếng trong, sạch không có cặn, sau 2 giờ vớt ra để ráo nước rồi rang vàng, say thành bột pha với nước sạch. Cùng với công đoạn này, gạo nếp được nấu chín, dỡ ra, đánh tơi, ủ cho ngấu. Sau 7 ngày trộn nước tương và nếp ủ chín vào chum rồi buộc cẩn thận đem ra nắng phơi và quấy đều mỗi ngày cho nước tương chín nhừ. Nếu cái nếp chìm xuống đáy là ăn được. Khi múc tương chỉ múc vào buổi sáng hoặc buổi tối, tránh trời nắng múc tương sẽ bị chua. Nước tương ngon là có màu vàng cánh dán, thơm, dư vị ngọt kéo dài... Nhờ vậy, sản phẩm nước tương của gia đình bà Tình cũng như nhiều gia đình khác như: hộ chị Trương Thị Thúy, Ngô Thị Quỳnh, hộ anh Trịnh Quốc Dũng... luôn bảo đảm chất lượng theo hương vị truyền thống, giá bán chỉ 30.000 đồng/lít.
Trước kia, ở mỗi làng quê Việt Nam, hầu như gia đình nào cũng biết chế biến tương, bởi “Tương cà gia bản” là món ăn chủ yếu trong cuộc sống tự cấp, tự túc của mỗi gia đình nông thôn. Tuy nhiên, người làng Ái có bí quyết riêng chế biến nước tương ngon mà không phải người làm tương nào cũng làm được. Cùng nguyên liệu ấy, công thức chế biến ấy, nhưng người làng Ái làm bao giờ cũng có hương vị đặc trưng riêng. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường và hội nhập, có rất nhiều thứ nước chấm hoàn hảo cạnh tranh quyết liệt, nhưng nước tương làng Ái vẫn giữ một vị trí trong cơ cấu bữa ăn của người dân làng quê Yên Định. Thứ nước chấm 100% chế biến từ các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật, lành và bổ dưỡng, càng để lâu càng ngấu, càng ngon rất phù hợp cho người ăn chay và không thể thiếu trong các món luộc như: thịt lợn, thịt dê, rau muống, các món thịt, cá hấp... Có thêm muỗng tương, chẳng những khử mùi tanh mà còn thay đổi khẩu vị, làm tăng độ ngon, ngọt hấp dẫn của thức ăn, giúp người ăn ngon miệng hơn, tiêu hóa tốt hơn.
Đồng chí Ngô Thanh Lịch, Phó Chủ tịch UBND xã Định Hải cho chúng tôi biết thêm: Làng Ái có hơn 50 hộ làm nghề chế biến nước tương. Nghề này không khó lại phù hợp với đối tượng là chị em phụ nữ và người già không còn khả năng lao động nặng. Nét mới của làng nghề hiện nay là: sản xuất tập trung, quy mô lớn, chất lượng và giá trị sản phẩm ngày càng cao hơn. Tháng 4-2011, xã đã chỉ đạo HTX dịch vụ nông nghiệp tổ chức thành lập tổ làm tương thu hút 20 hộ có quy mô sản xuất lớn tham gia và suất cho HTX từ 500 đến 600 lít nước tương/tháng. Bên cạnh đó, huyện và xã cũng có chính sách kích cầu cho các hộ. Cụ thể, xã kích cầu mỗi hộ 3.000 đồng/lít, HTX nhận bao tiêu sản phẩm tạo điều kiện cho các hộ phát triển nghề; huyện hỗ trợ công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng thương hiệu. Hiện nay, nước tương làng Ái đã có nhãn hiệu chỉ dẫn địa chỉ rõ ràng, có nguồn gốc xuất xứ, hàng xuất tại nhà hoặc vận chuyển đến nơi tiêu thụ... Nhờ cách làm này mà nước tương của các hộ làng Ái đã có mặt ở nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh. Những năm gần đây, nhiều hộ gia đình đã chuyên tâm làm nghề đạt hiệu quả, tạo việc làm cho nhiều lao động gia đình, hộ làm ít cũng có thu nhập thêm gần chục triệu, hộ làm nhiều có thu nhập vài ba chục triệu/năm.
Chia tay làng Ái, chúng tôi vui và tin rằng: với quyết tâm giữ nghề và phát triển nghề, cùng với sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương, nghề chế biến nước tương làng Ái sẽ phát triển mạnh và mang lại thu nhập đáng kể cho nhiều hộ gia đình.