Tin trong tỉnh
Ngày đăng: Thứ tư, 3-8-2011, 8:37 GMT+7
| Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2 đang được xây dựng. Ảnh: Ngọc Hải |
Là địa phương có tiềm năng về phát triển các dự án nguồn điện, nên trên địa bàn tỉnh ta hiện có hàng chục dự án được phép thăm dò, nghiên cứu và triển khai xây dựng. Tuy nhiên, hầu hết các dự án nguồn điện đang gặp nhiều khó khăn về vốn và trong tình trạng chậm tiến độ.
Đối với Dự án Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn I, đang có tiến độ chậm, phải gia hạn hợp đồng, bởi việc huy động vốn đối ứng do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thu xếp cho năm 2011 hết sức khó khăn. Theo kế hoạch vốn đã được EVN phê duyệt thì phần vốn đối ứng thu xếp cho dự án trong năm 2011 là 182 tỷ đồng, trong khi đó giá trị đã lên phiếu giá mà Ban Quản lý Dự án Nhiệt điện 2 còn thiếu để thanh toán cho nhà thầu là 33 tỷ đồng, chưa kể giá tạm ứng cho các gói thầu còn treo khoảng 14 tỷ đồng. Phần lớn các gói thầu bị chậm thanh toán hiện nay là các gói thầu thiết yếu, quan trọng cần phải bàn giao đúng tiến độ cho nhà thầu EPC triển khai các bước tiếp theo như đường ra cảng, bãi thải xỉ, kênh thoát nước lưu vực, nạo vét cảng...
Song, mặc dù tiến độ thực hiện một số hạng mục của Dự án Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn I có bị chậm, nhưng không ảnh hưởng đến tiến độ chung của dự án và tiến độ năm 2011 đã được Tập đoàn Điện lực Việt Nam phê duyệt. Ngoài việc kiến nghị các khó khăn về vốn, mặt bằng, Ban Quản lý Dự án Nhiệt điện 2 cũng yêu cầu nhà thầu chính Marubeni huy động thêm máy móc để đúc cọc nhồi, rút ngắn tiến độ thi công bê tông móng; tổ chức làm thêm giờ kể cả chủ nhật và ngày lễ để bù lại các khối lượng thi công đã bị chậm.
Đối với các dự án thủy điện, trên địa bàn tỉnh hiện có 22 dự án thủy điện đang được phép thăm dò, nghiên cứu và triển khai xây dựng, với tổng công suất trên 800 MW; tổng mức đầu tư gần 20.000 tỷ đồng. Hầu hết các dự án thủy điện đang triển khai trên địa bàn tỉnh đều là các dự án thủy điện nhỏ, một số ít là thủy điện vừa và chủ yếu là thủy điện có cột nước thấp. Việc đầu tư các dự án thủy điện có ý nghĩa tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực các huyện miền núi phía Tây của tỉnh. Tuy nhiên, ngoài Dự án Thủy điện Cửa Đạt, Thủy điện sông Mực đã đi vào hoạt động; Dự án Thủy điện Bá Thước 2 có tiến độ thực hiện nhanh, còn lại do thiếu vốn nên hầu hết các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh đều chậm tiến độ so với dự kiến, kể cả các dự án do EVN làm chủ đầu tư. Dự án Thủy điện Trung Sơn (huyện Quan Hóa) có quy mô lớn nhất, công suất 260 MW, tổng vốn đầu tư khoảng 6.000 tỷ đồng. Theo dự kiến ban đầu, Thủy điện Trung Sơn sẽ phát điện vào năm 2015, nhưng do khó khăn trong việc thu xếp vốn nên dự án bị chậm lại khoảng 2 năm.
Thủy điện Hồi Xuân, xã Thanh Xuân (Quan Hóa) có công suất 102 MW, gồm 3 tổ máy, sản lượng điện trung bình hàng năm là 432,61 triệu kWh. Tháng 6-2007, dự án được chuyển giao từ ban quản lý dự án 2 (thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam) sang Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Thủy điện Hồi Xuân (Vineco, thuộc Tổng Công ty CP Xây dựng điện Việt Nam - Bộ Công thương). Do chi phí đầu vào gia tăng, tiền lương, chi phí bồi thường, giá vật tư, vật liệu đều tăng đột biến và lãi suất vay cao, nên tổng mức đầu tư của dự án tính lại trong thời điểm tháng 5-2011 là 3.320 tỷ đồng, tăng 767 tỷ đồng so với tổng mức đầu tư tính trong năm 2009. Mới đây, được sự hỗ trợ của Chính phủ, Vineco đã thực hiện đàm phán vay 103 triệu USD (vốn vay thương mại) với Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc và đã được ngân hàng này phát thư hứa cấp tín dụng. Tuy nhiên, còn nhiều trình tự, thủ tục khiến nguồn vốn chưa được giải ngân.
Tương tự là Dự án Thủy điện Sông Âm, xã Trí Nang (Lang Chánh) có tổng mức đầu tư hơn 400 tỷ đồng, công suất 13 MW, sản lượng điện trung bình 42,7 triệu KWh/năm... do Tổng Công ty CP Đầu tư năng lượng Việt Nam - CIE làm chủ đầu tư. Dự án đã được khởi công tháng 7-2010 và dự kiến hoàn thành trong năm 2014, nhưng do những điều chỉnh về công suất dự án, CIE phải mất hơn một năm để khảo sát và lập lại dự án, thiết kế cơ sở. Cùng với đó, chính sách vay vốn có thay đổi so với kế hoạch ban đầu. Dự án Thủy điện Sông Âm nằm trong đối tượng được vay vốn theo Nghị định số 106/2008/NĐ – CP ngày 19-9-2008 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước (có thể được vay tới 70% trong thời hạn từ 10 năm trở lên). Tuy nhiên, Ngân hàng Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thanh Hóa, cho biết chỉ có thể cho vay 40% tổng mức đầu tư của dự án, phát hành bảo lãnh 30% cho doanh nghiệp đi vay các tổ chức tín dụng khác theo lãi suất thị trường và thời gian đối với dự án nhóm B là 8 năm. Việc thắt chặt chính sách tiền tệ, doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay dài hạn đã dẫn đến tiến độ triển khai dự án chậm.
Trước những khó khăn của các dự án nguồn điện, đặc biệt là các dự án thủy điện, trên góc độ quản lý Nhà nước, ông Trần Gia Khương, Quyền Giám đốc Sở Công thương, đánh giá: Việc triển khai các dự án nguồn điện, đặc biệt là các dự án thủy điện có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng công nghiệp, nhất là khu vực miền núi. Các dự án thủy điện có khả năng thúc đẩy tăng trưởng công khu vực miền núi từ 6 đến 7 nghìn tỷ đồng, kéo theo sự phát triển của cơ sở hạ tầng và các hạng mục dịch vụ khác. Chính vì thế, tất cả các dự án đều được thẩm định, xem xét một cách kỹ lưỡng, tuân theo quy hoạch đã được điều chỉnh, bổ sung của Bộ Công thương. Đa số các nhà đầu tư có tâm huyết và nguyện vọng triển khai dự án thực sự. Mức độ an toàn của các dự án được kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, do tình hình lạm phát, việc tiếp cận và huy động nguồn vốn đầu tư khó khăn nên hầu hết các nhà đầu tư có mong muốn được giãn tiến độ chuẩn bị đầu tư để vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay. Bên cạnh việc động viên các chủ đầu tư, phối hợp với các ngành chức năng và địa phương tháo gỡ khó khăn có liên quan, sở cũng tham mưu cho UBND tỉnh rút giấy phép đầu tư, như trường hợp của Dự án Thủy điện Sông Luồng 3, xã Nam Động (Quan Hóa); Dự án Thủy điện Cẩm Thủy 2 (huyện Cẩm Thủy)...
Theo Phạm Ngọc - THO
Tin đã đăng







