Nhìn chung 9 tháng đầu năm 2020, SXCN và dịch vụ thương mại đều đạt rất thấp so với mục tiêu tăng trưởng, cá biệt có lĩnh vực còn giảm sút. Cụ thể:
Sản xuất công nghiệp 9T/2020
Giá trị SXCN 9T/2020 đạt 67,4% KH và tăng 6,4% so với cùng kỳ.
Chỉ số SXCN (IIP) 9 T/2020 tăng 7,19% so với cùng kỳ.
Phân theo ngành công nghiệp cấp I: So với cùng kỳ, Giá trị SXCN ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,2%; công nghiệp điện bằng 95,4%; công nghiệp nước và xử lý thải tăng 8,4%.
Các sản phẩm bị ảnh hưởng trực tiếp dịch Covid-19 và Luật phòng chống bia, rượu, ước giảm mạnh như: Đường giảm 46,1% = 64.896 tấn; bia giảm 20,3% = 10.580 nghìn lít; thuốc lá bao giảm 23% = 43.597 nghìn bao; quần áo giảm 7,9% = 16.197 nghìn sản phẩm; giầy giảm 3% = 2.555 nghìn đôi; tinh bột sắn giảm 19,2% =6.755 tấn; gạch lát nền Ceramic giảm 8,3% = 356 nghìn m2; điện sản xuất giảm 7,0% = 333 Trkwh; phân bón giảm 2,9% = 6.722 tấn; ô tô tải giảm 66,8% = 650 xe.
Một số mặt hàng công nghiệp ít bị ảnh hưởng trực tiếp của dịch Covid-19, vẫn tăng trưởng như: Dầu ăn thực vật tăng 172,6% = 37.931 tấn; xi măng và clinker tiêu thụ tăng 3,0% = 388 nghìn tấn; bao bì các loại tăng 111,2% = 88.852 nghìn bao; thủy sản đông lạnh tăng 10,7% = 3.570 tấn; điện thương phẩm tăng 10,5% = 370 Tr kwh; các sản phẩm lọc hóa dầu tăng 22,4% = 3,96 triệu tấn (Xăng tăng 25,9% = 378.130 tấn, dầu diezel tăng 21% = 513.372 tấn; polypropylen tăng 23,% = 35.992 tấn, paraxilen tăng 10% = 33.494 tấn, benzel tăng 43,8% = 54.585 tấn, lưu huỳnh rắn tăng 40,7% = 53.477 tấn)...
Dịch vụ thương mại
Dịch Covid -19 diễn ra trên phạm vi toàn cầu, cửa khẩu biên giới tạm thời đóng cửa, giao nhận hàng hóa đường hàng không ngưng trệ, đường biển bị giảm sút, cùng với việc hạn chế tập trung đông người trên địa bàn toàn tỉnh, đã làm cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn tỉnh thiếu nguyên liệu, thiếu đơn hàng, giảm nhân công, đặc biệt là 02 nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch XK toàn tỉnh là may mặc và giầy da. Tuy XK sản phẩm lọc hóa dầu và một số mặt hàng khác có tăng trưởng, song không đủ bù đắp cho các mặt hàng giảm sút, làm chỉ tiêu XK vẫn giảm so với cùng kỳ.
Xuất khẩu 9T/2020 ước đạt 2.601,3 triệu USD bằng 65% KH, giảm 4,5% so với cùng kỳ, trong đó: Xuất khẩu hàng hóa đạt 2.503,5 triệu USD giảm 4,5%; Dịch vụ thu ngoại tệ đạt 97,8 triệu USD giảm 4%. Một số mặt hàng xuất khẩu tăng so với cùng kỳ như: Tinh bột sắn tăng 13,8%; chả cá Surimi tăng 71,7%; bột cá tăng 32%; dăm gỗ tăng 99,5%; xi măng tăng 62%; sản phẩm lọc hóa dầu tăng gấp hơn 2 lần... Đối với 2 nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất: hàng may mặc chỉ tăng 2,6% và giầy giảm 18,9%.
Toàn tỉnh có 137 doanh nghiệp XK, trong đó có 36 doanh nghiệp FDI chiếm 80,3% XK toàn tỉnh. Xu hướng kim ngạch các thị trường Việt Nam tham gia FTA tiếp tục tăng; một số thị trường chính như: Mỹ đạt 505 triệu USD, Nhật Bản 225,6 triệu USD, Hồng Kong 148,5 triệu USD, Trung Quốc 112,9 triệu USD; Hàn Quốc 102,6 triệu USD…
Nhập khẩu 9T/2020 ước đạt 3.822,3 triệu USD giảm 5,7% cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu so với cùng kỳ gồm: Thức ăn gia súc và nguyên liệu 7,4 triệu USD tăng 27,7%; nguyên phụ liệu thuốc tân dược 5,26 triệu USD giảm 13,2%; dầu thô 7,368 triệu tấn tăng 18,5%; vải 404,7 triệu USD giảm 11%; phụ liệu hàng may mặc 80,2 triệu USD giảm 7%; phụ liệu giầy dép 274,3 triệu USD giảm 9,3%; máy móc thiết bị phụ tùng 435,1 triệu USD tăng 60,2 %...
Thương mại nội địa
Thị trường nội tỉnh đã hồi phục nhanh sau dừng cách ly xã hội. Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh nửa cuối tháng 5 trở đi sôi động hơn các tháng trước, nhưng chưa bằng thời điểm như trước dịch. Mùa du lịch biển diễn ra chậm, khách du lịch giảm rõ rệt ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh.
Tóm lại,9 tháng đầu năm 2020, trong bối cảnh khó khăn dồn dập, đặc biệt là tác động của dịch Covid-19, SXCN tiếp tục duy trì tăng trưởng nhờ sự đóng góp chủ yếu của Lọc hóa dầu Nghi Sơn và Thép Nghi Sơn. Dịch vụ thương mại tuy không tăng trưởng so với cùng kỳ, song xuất khẩu đã tận dụng tốt các lợi thế từ các Hiệp định FTA do để duy trì đơn hàng và việc làm cho công nhân; thương mại nội địa đã làm tốt công tác bình ổn thị trường, đáp ứng cung - cầu ngay trong thời điểm cách ly toàn xã hội. Công tác quản lý Nhà nước của ngành Công Thương được tăng cường hiệu lực, đã có nhiều linh hoạt, sáng tạo, chủ động tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn. Đây là những điều kiện thuận lợi cho thực hiện nhiệm vụ 3 tháng cuối năm và phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch năm 2020.
Quí IV/2020, nhiệm vụ còn lại theo kế hoạch hết sức nặng nề, cụ thể:
Giá trị SXCN chiếm 32,6% KH cả năm, tăng trưởng 59,7% so với thực hiện quí IV năm 2019.
Xuất khẩu chiếm 35% KH cả năm, tăng trưởng 42,9% so với thực hiện quí IV năm 2019.
- Tổng mức lưu chuyển bán lẻ và doanh thu dịch vụ chiếm 31,5% KH cả năm, tăng 32,1% so với thực hiện quí IV năm 2019.
Trong bối cảnh hiện nay, đây là nhiệm vụ khó khả thi, song để phấn đấu cao nhất, Sở Công Thương xác định các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Tiếp tục ưu tiên cao nhất cho công tác phòng chống dịch Covid-19.
Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tại Kế hoạch hành động và Chương trình công tác của UBND tỉnh.
Khẩn trương triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu khó khăn sau dịch Covid-19 như: Cắt giảm thời gian giải quyết TTHC, triển khai Chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp, TTCN và dịch vụ thương mại theo Nghị quyết số 29/2016/NQ-HĐND; triển khai các hoạt động khuyến công, đào tạo nhân lực; bám sát thúc đẩy tiến độ các dự án đầu tư lớn được phân công theo dõi, ưu tiên chỉ đạo đảm bảo điện cho sản xuất và sinh hoạt... Bám sát hoạt động của doanh nghiệp, đề xuất, kiến nghị các giải pháp tháo gỡ khó khăn để tăng sản lượng, phấn đấu đạt kế hoạch mức cao nhất. Một số sản phẩm dự báo có khả năng hồi phục, tăng trưởng tốt như: Thép Nghi Sơn, dầu ăn thực vật, thủy sản đông lạnh, thức ăn gia súc, bao bì, sữa và nhóm sản phẩm vật liệu xây dựng. Phối hợp Ban Quản lý KKT Nghi Sơn và các KCN hỗ trợ để nhà máy lọc hóa dầu ổn định. Hỗ trợ các dự án mới, dự kiến có sản phẩm trong Quí IV như: Xi măng Long Sơn (dây chuyền 3), Thủy điện Trung Xuân - Quan Sơn, các dự án của tập đoàn Hongfu SX giầy tại Triệu Sơn, Như Thanh...
- Tăng cường công tác thu hút đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp và hỗ trợ, thu hút các dự án đầu tư thứ cấp vào cụm.
- Xây dựng phương án bình ổn thị trường dịp cao điểm cuối năm 2020. Hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Triển khai hướng dẫn doanh nghiệp tận dụng các Hiệp định thương mại tự do, tập trung vào thông tin, tuyên truyền, cụ thể hóa các nội dung của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới CPTPP và EVFTA
- Tiếp tục triển khai thực hiện công tác kiểm tra, rà soát các chợ sau chuyển đổi theo Kế hoạch 136/KH-UBND ngày 22/6/2020. Tổ chức hội nghị đánh giá xây dựng chợ kinh doanh thực phẩm và cửa hàng kinh doanh thực phẩm an toàn năm 2020. Đẩy mạnh việc thực hiện xét tiêu chí chợ kinh doanh thực phẩm đối với chợ tạm; đôn đốc, hướng dẫn các địa phương khẩn trương đẩy nhanh việc xây dựng chợ kinh doanh thực phẩm và cửa hàng kinh doanh thực phẩm an toàn.
- Triển khai các nhiệm vụ phòng chống lụt bão, thiên tai.
Năm 2021, là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIX và kế hoạch 5 năm 2021 - 2025, diễn ra trong bối cảnh dự báo tình hình thế giới, trong nước, trong tỉnh có những thuận lợi, điển hình là: Xu hướng hội nhập quốc tế và liên kết khu vực đang ngày càng trở nên mạnh mẽ; dòng vốn đầu tư có xu hướng dịch chuyển vào các nước đang phát triển và khu vực Châu Á; xu hướng dịch chuyển các nhà máy sản xuất công nghiệp FDI từ Trung Quốc sang các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có nước ta; cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với những nỗ lực của Chính phủ trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, chuyển đổi sang chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số đang tạo ra nhiều thuận lợi cho Thanh Hóa trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, tạo đột phá trong phát triển và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân; thành công của Hội nghị xúc tiến đầu tư vào Thanh hóa tháng 6/2020, cùng với việc Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 58/NQ-TW về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tạo thế và lực mới cho tỉnh... Bên cạnh đó, cũng còn nhiều khó khăn, thách thức đối với phát triển SXCN và dịch vụ thương mại, một số ảnh hưởng chủ yếu như: diễn biến khó lường của dịch Covid-19, biến đổi khí hậu khó dự báo, xung đột khu vực và chiến tranh thương mại tiếp tục có nguy cơ gia tăng...
Trong bối cảnh đó, Sở Công Thương xác định quan điểm xây dựng kế hoạch năm 2021: Phấn đấu cao cho tăng trưởng sản xuất công nghiệp làm nền tảng tăng trưởng trên cơ sở khai thác cao nhất công suất các nhà máy hiện có, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các dự án mới đi vào sản xuất nhanh chóng phát huy năng lực, hỗ trợ nhà đầu tư mới đẩy nhanh tiến độ đầu tư để có sản phẩm mới trong năm 2021. Tiếp tục tận dụng các ưu đãi Hiệp định thương mại tự do để đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường lớn. Tập trung bình ổn thị trường nội tỉnh, thúc đẩy cung cầu hàng hóa, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và đời sống nhân dân. Ưu tiên hỗ trợ tiêu thụ hàng Việt Nam, hàng Thanh Hóa.
Sản xuất công nghiệp 9T/2020
Giá trị SXCN 9T/2020 đạt 67,4% KH và tăng 6,4% so với cùng kỳ.
Chỉ số SXCN (IIP) 9 T/2020 tăng 7,19% so với cùng kỳ.
Phân theo ngành công nghiệp cấp I: So với cùng kỳ, Giá trị SXCN ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,2%; công nghiệp điện bằng 95,4%; công nghiệp nước và xử lý thải tăng 8,4%.
Các sản phẩm bị ảnh hưởng trực tiếp dịch Covid-19 và Luật phòng chống bia, rượu, ước giảm mạnh như: Đường giảm 46,1% = 64.896 tấn; bia giảm 20,3% = 10.580 nghìn lít; thuốc lá bao giảm 23% = 43.597 nghìn bao; quần áo giảm 7,9% = 16.197 nghìn sản phẩm; giầy giảm 3% = 2.555 nghìn đôi; tinh bột sắn giảm 19,2% =6.755 tấn; gạch lát nền Ceramic giảm 8,3% = 356 nghìn m2; điện sản xuất giảm 7,0% = 333 Trkwh; phân bón giảm 2,9% = 6.722 tấn; ô tô tải giảm 66,8% = 650 xe.
Một số mặt hàng công nghiệp ít bị ảnh hưởng trực tiếp của dịch Covid-19, vẫn tăng trưởng như: Dầu ăn thực vật tăng 172,6% = 37.931 tấn; xi măng và clinker tiêu thụ tăng 3,0% = 388 nghìn tấn; bao bì các loại tăng 111,2% = 88.852 nghìn bao; thủy sản đông lạnh tăng 10,7% = 3.570 tấn; điện thương phẩm tăng 10,5% = 370 Tr kwh; các sản phẩm lọc hóa dầu tăng 22,4% = 3,96 triệu tấn (Xăng tăng 25,9% = 378.130 tấn, dầu diezel tăng 21% = 513.372 tấn; polypropylen tăng 23,% = 35.992 tấn, paraxilen tăng 10% = 33.494 tấn, benzel tăng 43,8% = 54.585 tấn, lưu huỳnh rắn tăng 40,7% = 53.477 tấn)...
Dịch vụ thương mại
Dịch Covid -19 diễn ra trên phạm vi toàn cầu, cửa khẩu biên giới tạm thời đóng cửa, giao nhận hàng hóa đường hàng không ngưng trệ, đường biển bị giảm sút, cùng với việc hạn chế tập trung đông người trên địa bàn toàn tỉnh, đã làm cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn tỉnh thiếu nguyên liệu, thiếu đơn hàng, giảm nhân công, đặc biệt là 02 nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch XK toàn tỉnh là may mặc và giầy da. Tuy XK sản phẩm lọc hóa dầu và một số mặt hàng khác có tăng trưởng, song không đủ bù đắp cho các mặt hàng giảm sút, làm chỉ tiêu XK vẫn giảm so với cùng kỳ.
Xuất khẩu 9T/2020 ước đạt 2.601,3 triệu USD bằng 65% KH, giảm 4,5% so với cùng kỳ, trong đó: Xuất khẩu hàng hóa đạt 2.503,5 triệu USD giảm 4,5%; Dịch vụ thu ngoại tệ đạt 97,8 triệu USD giảm 4%. Một số mặt hàng xuất khẩu tăng so với cùng kỳ như: Tinh bột sắn tăng 13,8%; chả cá Surimi tăng 71,7%; bột cá tăng 32%; dăm gỗ tăng 99,5%; xi măng tăng 62%; sản phẩm lọc hóa dầu tăng gấp hơn 2 lần... Đối với 2 nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất: hàng may mặc chỉ tăng 2,6% và giầy giảm 18,9%.
Toàn tỉnh có 137 doanh nghiệp XK, trong đó có 36 doanh nghiệp FDI chiếm 80,3% XK toàn tỉnh. Xu hướng kim ngạch các thị trường Việt Nam tham gia FTA tiếp tục tăng; một số thị trường chính như: Mỹ đạt 505 triệu USD, Nhật Bản 225,6 triệu USD, Hồng Kong 148,5 triệu USD, Trung Quốc 112,9 triệu USD; Hàn Quốc 102,6 triệu USD…
Nhập khẩu 9T/2020 ước đạt 3.822,3 triệu USD giảm 5,7% cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu so với cùng kỳ gồm: Thức ăn gia súc và nguyên liệu 7,4 triệu USD tăng 27,7%; nguyên phụ liệu thuốc tân dược 5,26 triệu USD giảm 13,2%; dầu thô 7,368 triệu tấn tăng 18,5%; vải 404,7 triệu USD giảm 11%; phụ liệu hàng may mặc 80,2 triệu USD giảm 7%; phụ liệu giầy dép 274,3 triệu USD giảm 9,3%; máy móc thiết bị phụ tùng 435,1 triệu USD tăng 60,2 %...
Thương mại nội địa
Thị trường nội tỉnh đã hồi phục nhanh sau dừng cách ly xã hội. Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh nửa cuối tháng 5 trở đi sôi động hơn các tháng trước, nhưng chưa bằng thời điểm như trước dịch. Mùa du lịch biển diễn ra chậm, khách du lịch giảm rõ rệt ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh.
Tóm lại,9 tháng đầu năm 2020, trong bối cảnh khó khăn dồn dập, đặc biệt là tác động của dịch Covid-19, SXCN tiếp tục duy trì tăng trưởng nhờ sự đóng góp chủ yếu của Lọc hóa dầu Nghi Sơn và Thép Nghi Sơn. Dịch vụ thương mại tuy không tăng trưởng so với cùng kỳ, song xuất khẩu đã tận dụng tốt các lợi thế từ các Hiệp định FTA do để duy trì đơn hàng và việc làm cho công nhân; thương mại nội địa đã làm tốt công tác bình ổn thị trường, đáp ứng cung - cầu ngay trong thời điểm cách ly toàn xã hội. Công tác quản lý Nhà nước của ngành Công Thương được tăng cường hiệu lực, đã có nhiều linh hoạt, sáng tạo, chủ động tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn. Đây là những điều kiện thuận lợi cho thực hiện nhiệm vụ 3 tháng cuối năm và phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch năm 2020.
Quí IV/2020, nhiệm vụ còn lại theo kế hoạch hết sức nặng nề, cụ thể:
Giá trị SXCN chiếm 32,6% KH cả năm, tăng trưởng 59,7% so với thực hiện quí IV năm 2019.
Xuất khẩu chiếm 35% KH cả năm, tăng trưởng 42,9% so với thực hiện quí IV năm 2019.
- Tổng mức lưu chuyển bán lẻ và doanh thu dịch vụ chiếm 31,5% KH cả năm, tăng 32,1% so với thực hiện quí IV năm 2019.
Trong bối cảnh hiện nay, đây là nhiệm vụ khó khả thi, song để phấn đấu cao nhất, Sở Công Thương xác định các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Tiếp tục ưu tiên cao nhất cho công tác phòng chống dịch Covid-19.
Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tại Kế hoạch hành động và Chương trình công tác của UBND tỉnh.
Khẩn trương triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu khó khăn sau dịch Covid-19 như: Cắt giảm thời gian giải quyết TTHC, triển khai Chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp, TTCN và dịch vụ thương mại theo Nghị quyết số 29/2016/NQ-HĐND; triển khai các hoạt động khuyến công, đào tạo nhân lực; bám sát thúc đẩy tiến độ các dự án đầu tư lớn được phân công theo dõi, ưu tiên chỉ đạo đảm bảo điện cho sản xuất và sinh hoạt... Bám sát hoạt động của doanh nghiệp, đề xuất, kiến nghị các giải pháp tháo gỡ khó khăn để tăng sản lượng, phấn đấu đạt kế hoạch mức cao nhất. Một số sản phẩm dự báo có khả năng hồi phục, tăng trưởng tốt như: Thép Nghi Sơn, dầu ăn thực vật, thủy sản đông lạnh, thức ăn gia súc, bao bì, sữa và nhóm sản phẩm vật liệu xây dựng. Phối hợp Ban Quản lý KKT Nghi Sơn và các KCN hỗ trợ để nhà máy lọc hóa dầu ổn định. Hỗ trợ các dự án mới, dự kiến có sản phẩm trong Quí IV như: Xi măng Long Sơn (dây chuyền 3), Thủy điện Trung Xuân - Quan Sơn, các dự án của tập đoàn Hongfu SX giầy tại Triệu Sơn, Như Thanh...
- Tăng cường công tác thu hút đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp và hỗ trợ, thu hút các dự án đầu tư thứ cấp vào cụm.
- Xây dựng phương án bình ổn thị trường dịp cao điểm cuối năm 2020. Hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Triển khai hướng dẫn doanh nghiệp tận dụng các Hiệp định thương mại tự do, tập trung vào thông tin, tuyên truyền, cụ thể hóa các nội dung của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới CPTPP và EVFTA
- Tiếp tục triển khai thực hiện công tác kiểm tra, rà soát các chợ sau chuyển đổi theo Kế hoạch 136/KH-UBND ngày 22/6/2020. Tổ chức hội nghị đánh giá xây dựng chợ kinh doanh thực phẩm và cửa hàng kinh doanh thực phẩm an toàn năm 2020. Đẩy mạnh việc thực hiện xét tiêu chí chợ kinh doanh thực phẩm đối với chợ tạm; đôn đốc, hướng dẫn các địa phương khẩn trương đẩy nhanh việc xây dựng chợ kinh doanh thực phẩm và cửa hàng kinh doanh thực phẩm an toàn.
- Triển khai các nhiệm vụ phòng chống lụt bão, thiên tai.
Năm 2021, là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIX và kế hoạch 5 năm 2021 - 2025, diễn ra trong bối cảnh dự báo tình hình thế giới, trong nước, trong tỉnh có những thuận lợi, điển hình là: Xu hướng hội nhập quốc tế và liên kết khu vực đang ngày càng trở nên mạnh mẽ; dòng vốn đầu tư có xu hướng dịch chuyển vào các nước đang phát triển và khu vực Châu Á; xu hướng dịch chuyển các nhà máy sản xuất công nghiệp FDI từ Trung Quốc sang các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có nước ta; cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với những nỗ lực của Chính phủ trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, chuyển đổi sang chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số đang tạo ra nhiều thuận lợi cho Thanh Hóa trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, tạo đột phá trong phát triển và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân; thành công của Hội nghị xúc tiến đầu tư vào Thanh hóa tháng 6/2020, cùng với việc Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 58/NQ-TW về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tạo thế và lực mới cho tỉnh... Bên cạnh đó, cũng còn nhiều khó khăn, thách thức đối với phát triển SXCN và dịch vụ thương mại, một số ảnh hưởng chủ yếu như: diễn biến khó lường của dịch Covid-19, biến đổi khí hậu khó dự báo, xung đột khu vực và chiến tranh thương mại tiếp tục có nguy cơ gia tăng...
Trong bối cảnh đó, Sở Công Thương xác định quan điểm xây dựng kế hoạch năm 2021: Phấn đấu cao cho tăng trưởng sản xuất công nghiệp làm nền tảng tăng trưởng trên cơ sở khai thác cao nhất công suất các nhà máy hiện có, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các dự án mới đi vào sản xuất nhanh chóng phát huy năng lực, hỗ trợ nhà đầu tư mới đẩy nhanh tiến độ đầu tư để có sản phẩm mới trong năm 2021. Tiếp tục tận dụng các ưu đãi Hiệp định thương mại tự do để đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường lớn. Tập trung bình ổn thị trường nội tỉnh, thúc đẩy cung cầu hàng hóa, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và đời sống nhân dân. Ưu tiên hỗ trợ tiêu thụ hàng Việt Nam, hàng Thanh Hóa.
Phòng Kế hoạch – Tổng hợp
Sở Công Thương Thanh Hóa
Sở Công Thương Thanh Hóa