Tin trong tỉnh
Ngày đăng: Thứ hai, 23-4-2018, 0:0 GMT+7

(THO) - Lịch sử thời đại các vua Hùng không chỉ được viết lên nhờ sự anh minh của các vị vua, mà còn bởi sự xuất hiện và công lao của nhiều tên tuổi lỗi lạc, được nhân dân tôn thờ và thần thánh hóa.

Đền Đồng Cổ - di sản ghi dấu ấn thời kỳ Hùng Vương trên đất Thanh Hóa. 
Đồng Cổ đại vương là một trong những nhân vật tiêu biểu, gắn liền với những chiến công chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta buổi đầu dựng nước. Trong nhiều điểm thờ tự vị thần này, đền Đồng Cổ (thuộc làng  Đan Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định) là di sản có từ hàng nghìn năm trước và được coi là đền chính linh thiêng bậc nhất.
 
Nói về sự hiển linh của thần Đồng Cổ, sách xưa còn chép lại nhiều giai thoại ly kỳ. Chuyện rằng, khi Hùng Vương thứ nhất đem quân xuống phương Nam dẹp giặc Hồ Tôn, đã dừng chân ở thôn Khả Lao (làng Đan Nê ngày nay). Đêm nằm mộng, nhà vua thấy vị thần xưng là thần núi Đồng Cổ báo rằng, dưới chân núi có trống đồng có thể làm linh khí đuổi giặc. Khi tỉnh giấc nhà vua còn nghe vẳng lại tiếng chuông đồng từ ngôi đền dưới chân núi. Làm theo lời thần báo mộng, quả nhiên, giữa lúc trận chiến diễn ra ác liệt, bỗng từ không trung rộn lên tiếng trống đồng, thúc giục, cổ vũ tinh thần và nhuệ khí quân ta. Nhờ đó vua tôi đã xông lên mãnh liệt, nhanh chóng đánh bại quân địch. Sau khi dẹp yên bờ cõi phía Nam, trên đường trở về kinh đô Phong Châu, khi qua bộ Cửu Chân, nhà vua đã hạ chiếu sắc phong thần núi thôn Khả Lao là Đồng Cổ đại vương. Đồng thời, sai quan quân dựng đền thờ ngay cạnh chân núi Khả Lao và lệnh cho nhân dân trong vùng hàng năm tổ chức tế lễ trọng thể. 
 
Đền Đồng Cổ có từ buổi đầu Hùng Vương dựng nước và tồn tại đến tận ngày nay. Đền xưa nằm tựa vào chân dãy núi Tam Thai (núi có 3 ngọn giống như 3 làn cao thấp nối tiếp nhau), trước đền thông xanh bách cổ vút lên như với tới trời, từ xa trông thấu vẻ lung linh, rờn rợn. Hai ngọn núi dựng đứng 2 bên có những phiến đá chồng lên, giữa lưng chừng núi có chùa Thanh Nguyên (còn có tên gọi là chùa Đổng) được quây giữa các dãy đá khấp khểnh, trùng điệp. Đứng từ trên đỉnh núi nhìn xuống thấy dòng sông Mã uốn khúc quanh co như đang ôm đỡ bóng nghiêng đỉnh núi. Thuyền câu thả chậm trên sóng nước nhấp nhô, bốn bề ruộng đồng thấm nước mênh mang, cảnh đẹp như tranh vẽ. Trước cửa vào đền có hồ bán nguyệt. Hồ dựa núi làm bờ, có dòng ngầm qua núi thông với sông, khi nước sông dâng lên đẩy nước vào hồ, khiến mặt hồ lăn tăn gợn sóng và ẩn hiện tia sáng lung linh. Vào mùa hạ và thu, hồ mọc nhiều loại sen quý trông như thảm gấm, gió đưa hương hoa tỏa khắp một vùng. Cạnh đền là bến sông tấp nập cảnh chợ sớm, chợ chiều, cũng là nơi thuyền buôn tụ họp tạo nên cảnh đô hội của đất Ái Châu.
 
 Bởi “tinh linh lồng lộng trên cao đầy ắp miếu thờ, công huân rực rỡ tại sách xanh như ngọc sáng không cần ngòi bút tô thêm”, cho nên đứng trước danh sơn linh tích ấy, người xưa không dám không run sợ, thành kính. Cũng bởi vị thế của đền và cảnh non nước hữu tình mà khi qua đây, không ít văn nhân tài tử đã phải cảm thán: “Một khoảnh đền thiêng dựa núi xanh/ Đàn mây nghi ngút khí trong lành/ Ngàn năm Lạc Việt tên lừng lẫy/ Muôn thuở loan thư nghĩa rọt rành”. Sau thời đại Hùng Vương, các triều đại trải từ Đinh, Lý, Trần, Lê đều giữ lễ tế long trọng, tu sửa đền cổ và lập đền thờ vọng để cầu được thần phù trì, nhân văn càng thịnh, bá cáo uy vũ. Lại miễn cho dân làng Đan Nê các thứ thuế, công bồi trúc, tiền mặt đóng góp để sâu sắc kính thần, cốt để đạo người trong nước tụ hợp lại. Đền được dựng trong ngoài toàn gỗ lim, lợp ngói đỏ, quy mô hoàn hảo, có chế độ đổi thay thần tượng nghiêm trang, quanh năm khói hương tỏa đất trời, đúng với danh sơn uy linh đời đời. Trong đền tương truyền có 1 trống đồng từ thời vua Hùng, đường kính mặt trống khoảng 0,6m, cao khoảng 0,8m, được xem là trống đồng Lạc Việt nổi tiếng nhờ cách hỗn hợp đồng khiến tiếng không rè và hình như thoi nham thạch trong động. Đây cũng là vật quý đã tồn tại cùng đền cổ suốt nhiều thế kỷ. 
 
Nhưng rồi, di sản ngàn năm cũng không tránh khỏi sức bào mòn ghê gớm của nắng mưa và chiến tranh tàn phá. Nặng nề nhất là giai đoạn kháng chiến chống Pháp, đền từng hứng nhiều trận bom và bị san phẳng hoàn toàn. Dấu tích còn lại của di sản gốc chỉ là 2 tấm bia đá và nghinh môn ở phía Tây đền. Năm 2001 đền Đồng Cổ được công nhận là Di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia và mãi đến năm 2007, UBND tỉnh mới phê duyệt dự án đầu tư xây dựng, bảo tồn, tôn tạo núi và đền Đồng Cổ, với tổng kinh phí 35 tỷ đồng. Theo đó, cùng với sự hỗ trợ của UBND TP Hà Nội và Ban chỉ đạo quốc gia 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, các hạng mục chính gồm Nghi môn, quán Triều Thiên, Tiền điện, Thượng điện đã được xây dựng. Tuy nhiên, đây mới là giai đoạn 1, bởi để khôi phục lại diện mạo tương xứng với tầm vóc và giá trị của di sản, hiện còn rất nhiều hạng mục cần tiếp tục đầu tư như bàn cờ tiên trên đỉnh núi, chùa Thanh Nguyên, bến Trường Châu, đường vào đền, đường quanh hồ bán nguyệt, đường lên núi...
 
Điều đáng mừng là, dù đền đã qua nhiều năm bị chôn vùi và mới được khôi phục lại một phần diện mạo chưa đầy 1 thập kỷ nay, thế nhưng, từ xa xưa người dân làng Đan Nê vẫn giữ lệ cứ đến rằm tháng Ba âm lịch hàng năm lại tổ chức tế lễ, để tạ ơn thần che chở và cầu cho nhân khang vật thịnh, đất nước yên bình. Đó là cách di sản sống trong cộng đồng và tâm thức dân gian, cũng chính là cách thể hiện bản lĩnh dân tộc cùng chiều sâu văn hóa, được khởi phát từ thời đại Hùng Vương và luôn được cháu con gìn giữ, trao truyền cho muôn đời sau. 

Shares