Sử dụng năng lượng tái tạo hiệu quả vì phát triển bền vững của Việt Nam
Nếu có thể áp dụng các chính sách sử dụng năng lượng hiệu quả kết hợp phát triển năng lượng tái tạo, Việt Nam có thể cắt giảm, tránh xây mới khoảng 30.000 MW nhiệt điện than vào năm 2030, tương đương 25 nhà máy nhiệt điện than.
Đây là ý kiến được Trung tâm Phát triển và Sáng tạo Xanh (GreenID) đưa ra tại “Hội thảo Phát triển năng lượng gắn với bảo vệ môi trường vì phát triển bền vững ở Việt Nam”, do đơn vị này phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức ngày 5/6, tại Hà Nội.
Theo bà Nguỵ Thị Khanh, Giám đốc GreenID, quy hoạch điện 7 điều chỉnh đã cắt giảm khoảng 20.000 MW điện than nhưng nguồn điện này vẫn chiễm khoảng 43% cơ cấu nguồn vào năm 2030. Hiện tại giá nhiệt điện than được cho là rẻ hơn năng lượng tái tạo vì chưa bao gồm chi phí ngoại biên (là chi phí môi trường, xã hội, sức khoẻ…). Thực tế, đây là chi phí có thực mà người dân và chính phủ đang và sẽ phải gánh chịu chứ không phải các nhà đầu tư.
Tại Hội thảo, GreenID đã đưa ra nghiên cứu với 5 kịch bản để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng cao của Việt Nam. Các kịch bản được xây dựng theo hướng tiếp cận tối ưu hoá chi phí, xem xét các chi phí ngoại biên từ tác động ô nhiễm không khí và phát thải các-bon.
Nhiều ý kiến cho rằng, phương án an toàn nhất và chấp nhận được để đáp ứng nhu cầu năng lượng tương lai của Việt Nam, cắt giảm hiệu ứng nhà kính, đảm bảo môi trường là cắt giảm 30.000 MW điện than, tương đương với đưa ra khỏi quy hoạch 25 nhà máy điện than. Thay vào đó là áp dụng các giải pháp về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đồng thời tăng tỷ trong của năng lượng tái tạo.
So với Quy hoạch điện 7 điều chỉnh, Bản thiết kế này đề xuất đến năm 2030 tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo từ khoảng 21% lên 30%; tăng tỷ trọng nhiệt điện khí tăng 14,7% lên 22,8%; và giảm tỷ trọng của nhiệt điện than từ 42,6% xuống chỉ còn 24,4%.
Bà Nguỵ Thị Khanh cho rằng, kịch bản đưa ra sẽ giúp Việt Nam tăng cường an ninh năng lượng do giảm tỷ lệ nhập khẩu than, giảm xây dựng các nhà máy điện mới, giảm áp lực huy động khoảng 60 tỷ USD vốn đầu tư cho những dự án nhiệt điện than này, và đặc biệt là giảm phát thải khoảng 116 triệu tấn Co2, giảm ô nhiễm không khí và nguồn nước.
Cũng theo ông Nghiêm Vũ Khải, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, chuyển dịch sang năng lượng xanh là rất quan trọng và cần thiết vì Việt Nam là một trong số ít các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu. Hơn nữa, phát triển xanh là hướng đi thông minh cho Việt Nam, một quốc gia có tiềm năng năng lượng tái tạo dồi dào, đặc biệt là năng lượng mặt trời và gió.
Phát triển năng lượng tái tạo cũng là một hướng đi hợp lý để Việt Nam tránh phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều thách thức đòi hỏi nỗ lực lớn và bước đi phù hợp của tất cả các bên liên quan để công nghệ năng lượng tái tạo được đi vào thực tế phát triển và áp dụng.
Các chuyên gia cũng cho rằng, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả không chỉ bằng khuyến khích mà phải hướng tới bắt buộc, như sử dụng năng lượng mặt trời tại các toà nhà, mái nhà; xem xét đến các công nghệ mới trong năng lượng tái tạo. Ngoài ra, thực hiện quy hoạch điện 7 cũng cần tham vấn rộng rãi với các bên liên quan; linh hoạt, rà soát và cập nhật quy hoạch điện để bắt kịp tốc độ phát triển của công nghệ.
Theo bản thiết kế đề xuất, Việt Nam có thể có đủ điện dùng mà vẫn đảm bảo môi trường và sức khoẻ cho người dân.
Ông Rainer Brohm, Chuyên gia năng lượng tái tạo – Công ty tư vấn RB Berlin nhận định, năng lượng tái tạo toàn cầu đã đến lúc “không còn đường lui”. Năng lượng tái tạo cũng đang dần cạnh tranh hơn với các dạng năng lượng hoá thạch ở quy mô thương mại. Hiện ngày càng ít các dự án nhiệt điện than mới trên toàn cầu, số các nhà máy nhiệt điện than đóng cửa ngày càng tăng (chủ yếu ở các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD). Do vậy, xu hướng phát triển năng lượng của Việt Nam trong những năm tới cần tập trung mạnh hơn vào năng lượng tái tạo.
Tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa XK sang EU: Nhiều lợi ích cho doanh nghiệp
Từ tháng 1/2019, doanh nghiệp (DN) xuất khẩu (XK) hàng hóa sang EU phải tự chứng nhận xuất xứ (TCNXX) hàng hóa mới được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP). Đây là yêu cầu bắt buộc của EU đối với một số nước, trong đó có Việt Nam.
Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) - cho biết, tất cả các mặt hàng XK sang EU như da giày, dệt may, thủy sản, thủ công mỹ nghệ… đều phải TCNXX. Tất nhiên, trước khi áp dụng hoàn toàn việc TCNXX, phía EU sẽ cho các DN Việt Nam thời gian quá độ khoảng 6 tháng. Trong thời gian này, DN nào chưa TCNXX hàng hóa có thể xin giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) form A từ các cơ quan chức năng giống như hiện nay.
Theo thống kê của Bộ Công Thương, cả nước hiện có 2.700 DN đang XK sang EU được hưởng ưu đãi GSP. Ông Hải cho hay, việc DN bắt buộc phải TCNXX khi XK sang EU là tương đối gấp gáp. Tuy nhiên, nếu nói về kỹ thuật, việc TCNXX hàng hóa không phải việc quá khó khăn. Bởi thực tế hiện nay, để XK sang EU, DN đang phải xin C/O ở Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Bộ Công Thương. Điều đó đồng nghĩa với việc DN đã biết cách làm thế nào đáp ứng tiêu chí về xuất xứ hàng hóa để được hưởng ưu đãi GSP. Đến năm 2019, điều khác biệt duy nhất thay vì Bộ Công Thương hay VCCI cấp C/O thì DN sẽ tự cấp C/O cho chính mình bằng cách ghi một dòng lên chứng từ và hóa đơn là "sản phẩm này đạt tiêu chí để hưởng GSP".
Trả lời câu hỏi Bộ Công Thương có cấp phép cho các DN đủ điều kiện TCNXX hay không, ông Hải cho biết, Bộ sẽ không cấp phép cho hoạt động này, bởi đó là việc phía EU bắt buộc DN phải làm khi XK hàng hóa sang quốc gia họ. Bộ Công Thương chỉ tập huấn, hướng dẫn và là nơi DN đăng ký để sau này, nếu có vấn đề gì xảy ra trong quá trình giao thương, Bộ Công Thương sẽ nắm được thông tin để phối hợp với phía EU truy suất nguồn gốc hàng hóa và DN.
Bộ Công Thương cũng đang nhanh chóng xây dựng Thông tư hướng dẫn DN TCNXX hàng hóa khi XK đi EU. Sau khi Thông tư được ban hành, Bộ sẽ phối hợp với VCCI, các hiệp hội, ngành hàng có nhiều DN XK đi EU như da giày, thủy sản… để tập huấn và hướng dẫn cho DN. Từ đó giúp DN có thể TCNXX nhanh chóng, chính xác, không mất thời gian đi lại và chi phí như cách xin cấp C/O truyền thống.
Việt Nam tham gia Dự án thí điểm TCNXX hàng hóa trong khu vực ASEAN từ năm 2014, nhưng đến nay, số lượng DN được trao quyền TCNXX hàng hóa còn khiêm tốn. Nguyên nhân do trước đây, việc TCNXX là thí điểm nên DN phải đáp ứng một số tiêu chí về kim ngạch XK, độ uy tín mới được các cơ quan chức năng công nhận kết quả TCNXX. Tuy nhiên, do phía EU đã yêu cầu DN phải TCNXX nên hoạt động này thời gian tới sẽ dễ dàng hơn. Theo các chuyên gia, cơ chế TCNXX hàng hóa sẽ đem lại nhiều lợi ích cho DN như giảm thời gian xin cấp C/O truyền thống, chủ động trong phát hành hóa đơn thương mại có nội dung khai báo xuất xứ, từ đó giảm chi phí giao dịch... Đồng thời giúp DN nắm bắt sâu cam kết về quy tắc xuất xứ trong các Hiệp định thương mại tự do, qua đó tận dụng tối đa lợi ích cắt giảm thuế quan.
Theo thống kê của Bộ Công Thương, trong quý I/2018, kim ngạch XK sang EU đạt 9,83 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm 2017.
Thị trường trong nước: Duy trì tăng trưởng ổn định
Bộ Công Thương đang nỗ lực hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động thương mại nội địa như trình Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035; xây dựng Dự thảo Nghị định về phát triển và quản lý ngành phân phối… nhằm tạo điều kiện cho thị trường trong nước phát triển mạnh hơn trong thời gian tới.
Tăng trưởng 2 con số
Theo Bộ Công Thương, trong tháng 5, các mặt hàng nông sản, thực phẩm sản xuất thuận lợi, nguồn cung tăng và giá giảm. Đáng lưu ý, đối với mặt hàng thịt lợn, quy mô chăn nuôi giảm mạnh, mặc dù, nguồn cung vẫn đủ nhưng tâm lý giữ hàng khiến giá tăng so với cùng kỳ năm 2017. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được đẩy mạnh nhằm ngăn chặn các hành vi tăng giá bất hợp lý, buôn bán, vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nhờ vậy, thị trường trong nước tiếp tục được duy trì ổn định với tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tháng 5 đạt 354.049 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2017; tính chung 5 tháng, đạt 1.752,689 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2017. Theo Bộ Công Thương, đây là mức tăng khá cao, cho thấy kinh tế trong nước tiếp tục có sự phát triển, người dân tăng chi tiêu cho các nhu cầu của mình.
Giữ ổn định cung - cầu hàng hóa
Chia sẻ về xu hướng của thị trường trong nước những tháng tiếp theo, ông Trần Duy Đông - Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) - nhận định, năm nay, nhờ thời tiết thuận lợi nên hàng loạt nông sản của nước ta như vải, nhãn, xoài… được mùa, chất lượng tốt. Do đó, giải pháp quan trọng hàng đầu của Bộ Công Thương trong thời gian tới là chủ trì, phối hợp với các địa phương đẩy mạnh kết nối cung - cầu để tìm đầu ra ổn định cho nông sản. Về lâu dài, tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng chuỗi tiêu thụ nông sản, từ sản xuất đến hệ thống phân phối, hạn chế tối đa những bất ổn trong khâu sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm nông sản, thực phẩm, dẫn đến tình trạng nguồn cung thay đổi gây nên khủng hoảng thừa hoặc thiếu cục bộ.
Bên cạnh đó, giá xăng dầu thế giới đang có xu hướng tăng cao do bất ổn địa chính trị tại khu vực Trung Đông. Liên Bộ Tài chính - Công Thương sẽ tiếp tục điều hành giá xăng dầu trong nước hài hòa, sử dụng hợp lý Quỹ Bình ổn giá với liều lượng thích hợp. Đồng thời, chủ động có kịch bản ứng phó nếu giá xăng dầu tăng cao trong quý II/2018, để tạo dư địa thuận lợi cho việc kiểm soát mặt bằng giá cả năm 2018.
Ngoài ra, hiện nay, hạ tầng thương mại trong nước xét về tổng thể vẫn còn yếu kém và lạc hậu, chưa đáp ứng được đòi hỏi phát triển của ngành thương mại và phát triển thị trường trong nước. Do đó, Vụ Thị trường trong nước sẽ tham mưu cho Bộ Công Thương tiếp tục củng cố và kiện toàn hệ thống phân phối hàng hóa, nhất là một số mặt hàng thiết yếu còn chậm. Đặc biệt, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành bán buôn, bán lẻ trước những thách thức to lớn từ việc mở cửa thị trường dịch vụ phân phối.
Mỹ hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản vào Việt Nam
Hàng chục doanh nghiệp thủy sản Mỹ sẽ có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu vào Việt Nam trong thời gian tới nhờ hỗ trợ tài chính từ chính phủ liên bang.
Chương trình Tiếp cận Thị trường (MAP) của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã thông qua nguồn tài chính 196.000 USD cho 6 tổ chức, hiệp hội thủy sản nước này để hỗ trợ chi phí của phái đoàn xúc tiến thương mại Mỹ đến TP HCM trong năm nay và hỗ trợ quảng bá sản phẩm tại Singapore và Thái Lan cũng như các hoạt động thương mại khác.
6 tổ chức tham gia hoạt động trên gồm tổ chức Xuất khẩu Thủy sản Mỹ - Vùng Đông bắc (Food Export USA – Northeast), Viện Tiếp thị Thủy sản Alaska (ASMI), Hiệp hội Xuất khẩu Thủy sản Vùng Trung tây của Mỹ (Food Export – Midwest), Hội đồng Nông nghiệp giữa các Bộ lạc (Intertribal Agriculture Council) và Hiệp hội Thương mại Miền tây nước Mỹ (Western United States Trade Association).
Số lượng doanh nghiệp thủy sản Mỹ được mời tham gia hoạt động xúc tiến trên vẫn chưa được công bố chính thức nhưng có thể lên đến 24 doanh nghiệp, bà Colleen Coyne - điều phối viên của Food Export Northeast, nói với Undercurrent News tại Hội chợ Thủy sản Toàn cầu (Seafood Global Expo) ở Bỉ.
Trong năm ngoái, Mỹ xuất khẩu 20 nghìn tấn thủy sản vào Việt Nam với trị giá 135 triệu USD, trong khi ở chiều ngược lại, Việt Nam xuất khẩu gần 230 nghìn tấn thủy sản với kim ngạch 1,4 tỷ USD vào thị trường Mỹ.
Theo số liệu của Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA), các loại thủy sản xuất khẩu chính của Mỹ vào Việt Nam gồm tôm hùm, mực và ốc vòi voi (geoduck, còn được gọi là tu hài Canada).
Bà Coyne cho biết, 6 tổ chức của Mỹ tìm đến sự hỗ trợ của USDA để tăng xuất khẩu thủy sản vào Việt Nam “dựa trên niềm tin chung rằng các cơ hội tốt đẹp đang xuất hiện để tăng số lượng và chủng loại thủy sản Mỹ được xuất khẩu”.
Bà cũng cho biết, chuyến đi của phái đoàn thương mại có thể bắt đầu ngay sau Hội chợ Thủy sản Châu Á (Seafood Expo Asia) diễn ra tại Hồng Kông từ ngày 4 – 6/9.
ESCO thúc đẩy tiết kiệm năng lượng
Theo ông Trịnh Quốc Vũ - Phó Vụ trưởng Vụ Tiết kiệm Năng lượng & Phát triển bền vững (Bộ Công Thương), Việt Nam hiện nay vẫn còn là một trong những quốc gia có cường độ sử dụng năng lượng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng quốc gia, các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 47,3% tổng năng lượng sử dụng cuối cùng, tiếp theo là các ngành giao thông vận tải và dân dụng chiếm lần lượt 29,6% và 15,1%. Trong khi đó, tiềm năng trữ dầu và khí đốt sẽ sớm suy giảm, năng lượng tái tạo chưa thể đáp ứng ngay với quy mô lớn do giá thành còn cao thì việc thúc đẩy các hoạt động, giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là giải pháp có tính kinh tế cao, cần được ưu tiên.
ESCO là mô hình của một công ty cung cấp các giải pháp năng lượng toàn diện cho khách hàng. Đây là mô hình thuộc dự án “Tiết kiệm năng lượng (TKNL) và sản xuất sạch hơn tại Việt Nam” được triển khai từ năm 2011 do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ với sự chủ trì của Bộ Công Thương. Trong thời gian qua, Bộ Công Thương và WB đã phối hợp thực hiện Dự án TKNL cho ngành Công nghiệp Việt Nam (gọi tắt là VEEIE), trong đó IBRD cung cấp một khoản tín dụng trị giá 100 triệu USD cho các tổ chức tài chính tham gia tiến hành cho vay các dự án đầu tư tiết kiệm năng lượng. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng đang phối hợp với WB tiến hành đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp về chính sách cũng như các phương án để thúc đẩy phát triển thị trường dịch vụ năng lượng ESCO tại Việt Nam.
Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy việc phát triển thị trường ESCO, với một môi trường chính sách thuận lợi có thể nhân rộng hiệu quả việc đầu tư vào các dự án TKNL. Mặc dù tiềm năng về TKNL tại Việt Nam là rất lớn, có rất ít hoạt động đầu tư vào lĩnh vực TKNL được thực hiện do năng lực của các đơn vị tham gia còn hạn chế, trong đó có cả các đơn vị tư vấn, ngân hàng và doanh nghiệp. Sự tham gia của các ESCO vào thị trường TKNL sẽ giúp cung cấp các nguồn kĩ thuật, sắp xếp tài chính, chia sẻ rủi ro và tạo dựng niềm tin cho các doanh nghiệp công nghiệp và ngân hàng đầu tư vào các dự án TKNL.
Theo thống kê, hiện nay Việt Nam có khoảng 100 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tư vấn dịch vụ TKNL. Nhưng trên thực tế số lượng đơn vị đăng ký hoạt động ESCO và có hoạt động theo mô hình ESCO còn rất hạn chế. Mặc dù Chính phủ đã có chính sách khuyến khích, hỗ trợ để thúc đẩy hoạt động TKNL theo mô hình ESCO như hỗ trợ đầu tư, ưu đãi đầu tư đối với dự án đầu tư sản xuất phương tiện, thiết bị TKNL; đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất, công nghệ tiết kiệm năng lượng; ưu đãi về thuế, hỗ trợ vốn, đất đai để xây dựng cơ sở sản xuất các sản phẩm TKNL…Nhưng vẫn còn một số rào cản cần phải khắc phục trong thời gian tới nhằm thúc đẩy hoạt động ESCO phát triển tương xứng với tiềm năng.
Đầu tiên phải kể đến là thiếu cơ chế, hỗ trợ tài chính cho việc phát triển và triển khai các dự án TKNL. Đây là một trong những nút thắt lớn nhất mà hầu hết các ESCO đều vướng khi triển khai các dự án. Thực tế tại Việt Nam các ESCO mới tập trung vào doanh nghiệp ừa và nhỏ chứ chưa phải là doanh nghiệp lớn. Khi cung cấp các giải pháp, hầu hết doanh nghiệp ít khi bỏ tiền túi ra để đầu tư, chỉ khi ESCO chứng minh được hiệu quả tết kiệm thì DN mới bỏ tiền. Điều đó tạo áp lực lớn cho ESCO là phải đi vay để lấy vốn đầu tư.
Để thúc đẩy hoạt động ESCO tại Việt Nam, các chuyên gia năng lượng cho rằng, cần đẩy mạnh truyền thông, marketing về ESCO. Điều quan trọng nhất đó chính là vai trò của người đứng đầu doanh nghiệp trong áp dụng mô hình này vào hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần xây dựng các cơ chế tài chính bền vững, xây dựng mô hình liên kết tài chính giữa doanh nghiệp - Công ty ESCO và Tổ chức tín dụng.
Chính thức cấm sử dụng công nghệ nhiệt điện hiệu suất thấp
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký Quyết định số 24/2018/QĐ-TTg ban hành danh mục và lộ trình phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phải loại bỏ, cũng như các tổ máy phát điện (nhiệt điện than, nhiệt điện khí) hiệu suất thấp không được xây dựng mới.
Để nhiệt điện than giảm thiểu tác động tiêu cực
Theo đó, từ ngày 10/7/2018, không cho phép nhập khẩu và sản xuất, kinh doanh các thiết bị có mức hiệu suất năng lượng không đáp ứng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu trong tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) như: Bóng đèn huỳnh quang compact TCVN 7896:2008; bóng đèn huỳnh quang ống thẳng TCVN 8249:2009; tủ lạnh, tủ kết đông lạnh TCVN 7828:2013; máy điều hòa không khí không ống gió TCVN 7830:2015; máy giặt gia dụng TCVN 8526:2010; máy thu hình TCVN 9536:2012; nồi cơm điện TCVN 8252:2009; màn hình máy tính TCVN 9508:2012; máy biến áp phân phối TCVN 8525:2010, vv...
Mặt khác, Chính phủ không cho phép nhập khẩu, sản xuất và kinh doanh sau 2 năm kể từ ngày 10/7/2018 đối với các thiết bị có mức hiệu suất năng lượng không đáp ứng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu trong TCVN như: Bóng đèn huỳnh quang compact TCVN 7896:2015; bóng đèn huỳnh quang ống thẳng TCVN 8249:2013; tủ lạnh, tủ kết đông lạnh TCVN 7828:2013; máy điều hòa không khí không ống gió TCVN 7830:2015; máy giặt gia dụng TCVN 8526:2013; máy thu hình TCVN 9536:2012; nồi cơm điện TCVN 8252:2015; màn hình máy tính TCVN 9508:2012; động cơ điện không đồng bộ ba pha roto lồng sóc TCVN 7540-1:2013;...
Đặc biệt, kừ ngày 10/7/2018, không cho phép xây dựng mới tổ máy phát điện bằng than, khí công nghệ lạc hậu, có hiệu suất tại thời điểm bắt đầu đưa vào vận hành thương mại thấp hơn hiệu suất quy định tương ứng với từng dải công suất của tổ máy theo quy định. Đồng thời, không cho phép nhập khẩu thiết bị cũ, lạc hậu đối với các tổ máy phát điện có công suất nằm ngoài các dải công suất quy định; không phê duyệt chủ trương đầu tư các nhà máy nhiệt điện phát điện bằng than, khí đốt có hiệu suất năng lượng thấp hơn hiệu suất quy định tương ứng với dải công suất của tổ máy phát điện theo quy định.
Lan Hương – Trung tâm Thông tin công nghiệp và Thương mại
Tin đã đăng







